Bệnh thoái hóa niêm mạc dạ dày
Chúng có thể gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng kể cả trường hợp dẫn đến biến chứng tiền ung thư và ung thư. Bệnh cần được phát hiện, chẩn đoán và điều trị thích hợp; song song nên thực hiện các biện pháp dự phòng hiệu quả.
Niêm mạc bao tử là lớp phủ cả thảy mặt trong thành bao tử gồm lớp biểu mô, lớp đệm và lớp cơ niêm mạc; chúng được nuôi dưỡng từ các nhánh của động mạch thân - tạng, hệ mạch bạch huyết bắt đầu từ niêm mạc chạy vào các lớp dưới niêm mạc, hội tụ đổ vào 3 chuỗi hạch nằm dọc động mạch vành - vị, động mạch gan và động mạch lách; dây thần kinh sọ não số X và hệ giao cảm điều hòa các quá trình cơ học và tiết dịch của niêm mạc dạ dày do hệ thần kinh cao cấp chỉ huy.
căn do gây thoái hóa
Thoái hóa niêm mạc bao tử có thể do nhiều duyên do khác nhau bao gồm: quá trình thoái hóa niêm mạc thiên nhiên khi tuổi đã cao. thân thể chịu các tác nhân cơ học, hóa học, nhiệt học trên lớp biểu mô niêm mạc dạ dày như dùng thức ăn khó tiêu, quá nóng, quá lạnh, cứng, rắn, nhai không kỹ, ăn uống không điều độ, uống rượu bia, dùng các chất gia vị... Sử dụng một số loại thuốc kháng sinh, sulfamide, iodosalicylate, indometacine, quinine, quinacrine, aspirine, corticoide, phenylbutazone... Do sự lan truyền của các ổ viêm nhiễm như viêm hạch hạnh nhân, viêm xoang, viêm dạ dày, viêm túi mật. Do sự đổi thay kéo dài chức năng vận động và tiết dịch vị dạ dày vì rối loạn hoạt động tâm thần thực vật. Do rối loạn nội tiết như tăng hoạt động tuyến thượng thận, tăng hoạt động tuyến giáp trạng, bệnh myxoedeme. Do rối loạn chuyển hóa, dị ứng, thiếu oxy trong suy giảm tuần hoàn, thiếu vitamin, yếu tố tự miễn dịch... và cả vai trò của thần kinh cao cấp.
Chẩn đoán
Chẩn đoán lâm sàng trường hợp thoái hóa niêm mạc dạ dày khá phức tạp vì thoái hóa niêm mạc bao tử do nhiều nguyên do khác nhau đã nêu ở trên, chúng để lại nhiều hậu quả rất đa dạng gồm các rối loạn cảm giác, vận động, tiết dịch cũng như các thương tổn thực thể khác nên có nhiều bệnh cảnh lâm sàng khác nhau. bởi vậy, khi chẩn đoán lâm sàng chỉ có thể dựa vào một số triệu chứng chung nhất như: có cảm giác nặng nề ở vùng bụng, đau vùng thượng vị, cơn đau lúc thì âm ỉ lúc thì dữ dội nhất là sau khi ăn hoặc uống chất kích thích; có triệu chứng nóng rát trong dạ dày, ợ hơi hoặc ợ chua, buồn nôn và nôn, đầy hơi, ăn mất ngon, bị táo bón hoặc đi tả thất thường; hay hồi hộp, xúc động, có khi có dấu hiệu ngoại tâm thu; thân gầy sút, thiếu máu...
Chẩn đoán cận lâm sàng được thực hiện bằng một số phương pháp lấy dịch vị ở những thời khắc khác nhau như lấy dịch vị khi còn đói, sau khi rửa dạ dày, sau bữa ăn có menu đặc biệt, sau khi uống hoặc tiêm các chất kích thích tiết dịch vị như caffein, histamin, insulin... Các phương pháp này có thân xác định được số lượng và độ toan dịch vị, qua đó gián tiếp phát hiện tình hình thực trạng thoái hóa niêm mạc bao tử.
Các phương pháp chụp phim X-quang kể cả phương pháp chụp với chất cản quang, bơm hơi phúc mạc chỉ có thể phát hiện một cách khái quát hình ảnh niêm mạc, những biến đổi về nhu động và trương lực bao tử. Phương pháp chẩn đoán bằng đồng vị phóng xạ, phương pháp đánh dấu hồng cầu... cho phép xác định lượng kết nạp vitamin B 12 , lượng nhân tố nội tại, dấu hiệu chảy máu niêm mạc dạ dày trong quá trình thoái hóa. Phương pháp xét nghiệm phân, chụp ảnh bao tử, siêu thanh, chẩn đoán tế bào học dịch vị cũng góp phần phát hiện được tổn thương niêm mạc dạ dày trong quá trình thoái hóa. Với sự phát triển của phương pháp nội soi với ống soi mềm, kỹ thuật sinh thiết phát hiện bệnh bằng kính hiển vi và kính hiển vi điện tử đã nâng cao chất lượng chẩn đoán; dùng ống soi mềm tiến hành soi bao tử để đánh giá hình ảnh đại thể, sinh thiết vùng nghi ở những bệnh nhân có hội chứng bao tử, nhất định mảnh sinh thiết để làm tiêu bản chẩn đoán vi thể bằng kính hiển vi để phân tích biến đổi cấu trúc vi thể niêm mạc bao tử; có thể rà soát lại bằng kính hiển vi điện tử với độ thổi phồng to hơn mà kính hiển vi thường nhật không xác định được. Căn cứ vào sự biến đổi vi thể niêm mạc bao tử, so sánh với hình ảnh đại thể qua ống nội soi, kết quả định lượng dịch toan và biến đổi cấu trúc siêu vi thể trong những trường hợp nghi ngờ để xác định tỉ lệ và phân loại độ thoái hóa ở các lớp biểu mô, lớp đệm, lớp tuyến; mức độ tiêm nhiễm tế bào tròn và dị sản ruột niêm mạc bao tử.
Thoái hóa niêm mạc bao tử là bệnh thường gặp trong các bệnh lý của hệ tiêu hóa
Điều trị và phòng bệnh
Việc điều trị bệnh thoái hóa niêm mạc dạ dày muốn thực hiện có hiệu quả đầu tiên cần phải dựa vào tình hình bệnh cảnh lâm sàng thực tại của từng bệnh nhân. Thực tế phải kết hợp điều trị triệu chứng với điều trị duyên do, phối hợp y khoa hiện đại và y học cựu truyền. Trong điều trị nội khoa, phải chỉ định cho bệnh nhân thực hành đúng chế độ ăn uống, ngơi nghỉ và dùng thuốc đúng quy định. Cần bảo vệ niêm mạc bao tử bằng các loại thuốc băng niêm mạc dạ dày, thuốc chống viêm, chống phù và hình thành sẹo theo chỉ định của thầy thuốc. Ngăn chặn rối loạn bài tiết và trung hòa dịch toan bằng nhiều cách như tránh dùng những chất kích thích như rượu, chè, cà phê, thuốc lá...; ức chế trung tâm tâm thần bằng các thuốc an thần, ức chế chất trung gian dẫn truyền acetylcholin bằng các loại thuốc kháng cholin, ức chế nơi tiếp nhận histamin... Trong trường hợp giảm thiểu độ toan, cần cung cấp cho cơ thể một lượng pepsin và HCl hiệp. Trường hợp thiếu máu ác tính, cần chóng vánh cung cấp lượng HCl, vitamin B 12 , nguyên tố nội tại ăn nhập với tình trạng thực tiễn của từng bệnh nhân. giờ phương pháp điều trị thoái hóa niêm mạc dạ dày bằng y khoa cổ truyền cũng đã góp phần rất hăng hái trong điều trị nội khoa để điều chỉnh độ toan và bảo vệ niêm mạc dạ dày, giảm đau, chống viêm, hồi phục niêm mạc...; đồng thời phương pháp dưỡng sinh, xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt cũng đã đem lại nhiều tác dụng tốt.
Việc phòng bệnh cần chú ý đến những vấn đề như phát hiện sớm sự thương tổn từ giai đoạn đầu để kịp thời có biện pháp điều trị đúng, cần có chế độ sinh hoạt điều độ, tránh làm việc quá sức, tránh bao tay thần kinh kéo dài; có chế độ ăn uống ăn nhập và đảm bảo vệ sinh, tránh ăn các loại thức ăn cứng có nhiều xơ, quá nóng hoặc quá lạnh; không nên dùng rượu mạnh, trà hay chè đặc, thuốc lá, cà phê, thức ăn có nhiều gia vị kích thích nhất là khi đang đói. Cần lưu ý không được ăn nhanh, vừa ăn vừa làm việc hoặc làm cần lao nặng sau khi ăn; vận dụng và thi bằng lái xe máy kết hợp các liệu pháp thể dục, dưỡng sinh, xoa bóp... để từng bước nâng cao sức khỏe toàn diện; điều trị kịp thời những ổ viêm nhiễm nhất là các bộ phận có liên hệ trực tiếp đến hệ tiêu hóa như: mũi, miệng, răng, họng, túi mật...
Thoái hóa niêm mạc bao tử là một bệnh lý thường gặp trong thực tiễn ở hệ tiêu hóa. Chúng có bệnh cảnh lâm sàng khá đa dạng và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, có thể dẫn đến biến chứng tiền ung thư và ung thư. thành thử, khi bắt đầu có những biểu hiện rối loạn chức năng bao tử thì phải cần lưu ý để khám phát hiện, chẩn đoán và điều trị kịp thời, hợp theo từng trường hợp bệnh vì thoái hóa niêm mạc bao tử là một trong những căn do chính yếu gây rối loạn chức năng dạ dày. Thoái hóa bao tử có thể do nhiều căn do khác nhau nên muốn điều trị có hiệu quả phải cần dựa vào tình hình bệnh cảnh lâm sàng thực tại của từng bệnh nhân, phối hợp điều trị triệu chứng với điều trị căn nguyên, phối hợp y học đương đại với y khoa cổ truyền. Việc phòng bệnh cũng cần lưu ý thực hành bằng các biện pháp cấp thiết theo khuyến cáo đã được nêu ở trên để phòng ngừa có kết quả.
BS. NGUYỄN TRÂM ANH
.png)







0 nhận xét: